GIÁO XỨ KIM LONG

Trang chủ » Các thánh tử đạo của giáo xứ

Các thánh tử đạo của giáo xứ

Giáo xứ Kim Long được diễm phúc có đến 3 người con của giáo xứ đã được tôn phong hiển thánh. Điều đó nói lên đức tin sống động và mạnh mẽ đã từng được thể hiện trên mảnh đất này. Và ngày nay, những người con của giáo xứ Kim Long vẫn nguyện tiếp tục noi gương đức tin các bậc cha ông xưa…

Tiêu sử các thánh tử đạo của giáo xứ Kim Long

1. Thánh Gioan Đoạn Trinh Hoan[1] (Linh mục tử đạo, 1798 – 1861).

Theo Đức Kitô

          Đức Kitô đã chết để cứu độ nhân loại. Thánh Gioan Hoan đã ý thức cuộc tử đạo là cách noi gương Chúa tuyệt hảo nhất, và tự nguyện đón nhận nó. Trong những ngày cuối cùng, cha đã mượn lời thánh Phaolô để khuyên nhủ những bạn tù rằng: “Anh em hãy theo gương tôi, như tôi đã noi gương Đức Kitô (x. 1Cr 11,1). Khi đến phiên mình, anh em hãy theo đường khổ giá tôi sắp đi đây”.

          Gioan Đoạn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại họ Kim Long, Phú Xuân (Huế) (*) trong một gia đình nề nếp, đạo hạnh. Nhờ sự hỗ trợ của gia đình, cậu đã dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Penang (Mã Lai) của hội Thừa Sai Paris. kim-long (4)Về sau học xong thần học, năm 1836, thầy Gioan về nước thụ phong linh mục tại Sài Gòn và phục vụ đắc lực cho Giáo Hội Việt Nam[2].

Vì sứ mạng tông đồ

          Trong 26 năm linh mục, cha Gioan Hoan đã lãnh nhận nhiều nhiệm sở. Cha nhiệt tình hoạt động nhưng điềm tĩnh, thận trọng và yêu thương mọi người. Hơn nữa, cha có biệt tài nói chuyện rất duyên dáng, nên ở đâu cũng được mọi người quý mến. Dưới thời vua Tự Đức, cha là một trong những linh mục Việt Nam có uy tín nhất do khả năng, tuổi tác và kinh nghiệm hoạt động lâu năm. Dù phải thay đổi chỗ ở liên tục, thực tế cha phải sống ở trên thuyền nhiều hơn trên đất liền, cha vẫn kiên tâm đầu tư  vào việc đào tạo các thầy giảng và cổ động hỗ trợ ơn gọi linh mục nơi các thanh thiếu niên. Cha hướng dẫn và giới thiệu nhiều bạn trẻ vào chủng viện của giáo phận.

          Đầu năm 1861, nhân dịp lễ Hiển Linh, cha đến xứ Sáo Bùn (Quảng Bình) để thăm viếng, khích lệ các giáo hữu, giải tội và giúp họ mừng lễ. Như thường lệ, cha đến trọ nhà ông trùm Phượng. Tối ngày 03/01, quan quân nghe tin báo đến bao vây và truy bắt, cha chạy ra sông tìm đường đi trốn, không ngờ vừa đến bờ sông thì gặp ngay một toán lính đi đến. Cha định núp sau một đống củi, nhưng không kịp. Lính bắt và giải cha vào Đồng Hới. Khi đó cha đã 63 tuổi.

          Trước tòa án, quan tỉnh đã cho dùng mọi hình thức tra tấn dã man. Ông cho đánh đập tàn nhẫn, rồi cho nung đỏ kìm sắt kẹp vào đùi và tay cha, để bắt cha bước qua thập giá và khai thác tin tức về Giáo Hội. Thế nhưng ông đã thất bại hoàn toàn. Dù đau đớn đến nỗi có khi ngất xỉu, cha Gioan Hoan vẫn cắn răng không nói một lời, không tiết lộ những gia đình cha đã trú ngụ, và dĩ nhiên không chịu chối đạo. Ông trùm Phượng và bảy tín hữu khác cùng bị bắt ở Sáo Bùn cũng theo gương cha, không tiết lộ chi tiết nào có hại đến những người khác. Cha Hoan và ông trùm Phượng bị kết án xử tử, còn những người kia phải lưu đày chung thân.

          Khu vực giam cha Hoan cũng có nhiều Kitô hữu, vì chiến dịch bắt đạo tháng 10/1859 đã gom nhiều chức sắc trong các giáo xứ, và riêng ở Huế thì tập trung mọi tín hữu trên 50 tuổi. Nhà vua trù tính kế hoạch làm áp lực với quân Pháp để họ triệt thoái các tàu bè ở Cửa Hàn. Nhờ tài xã giao lịch thiệp, cha Hoan đã chiếm được thiện cảm của toán lính canh ngục. Ngài có thể dễ dàng đến các phòng giam khác của khu vực để thăm viếng các tín hữu.

          Trong năm tháng tù giam, cha Hoan dành rất nhiều thời giờ để giải tội, chúc lành và khích lệ các tín hữu. Nhận được Mình Thánh Chúa ở ngoài gởi vào, cha rước lễ và chia sẻ cho anh em. Thật cảm động biết bao hình ảnh người cha già, tay chân cũng mang xiềng, cổ cũng đeo gông và nắm chắc bản án vì đức tin, đến gặp từng người bạn sắp ra pháp trường để nói đôi lời ủy lạo và ban cho họ “của ăn đàng”. Chính Bánh Trường Sinh, lương thực thiêng liêng đó đã củng cố sức mạnh cho họ trên hành trình cuối cùng về nhà Cha.

          Ngày 25/05, trước ngày bị chém đầu, vị mục tử còn đi một vòng thăm các bạn tù lần cuối, khuyên nhủ họ : “Giờ cuối cùng của tôi không còn xa. Phần anh em, những người con yêu quý, anh em còn ở lại trên trần gian đau khổ này, anh em hãy trung tín đến cùng. Xin anh em cầu nguyện cho tôi hoàn thành ý Chúa cho trọn vẹn”.

          Sau khi nghe đọc bản án, cha nói: “Con tạ ơn Chúa, Ngài đã cho con biết trước giờ đổ máu vì danh Ngài”.

Dưới bóng Nữ Vương tử đạo

          Tối hôm đó, cha thức thật khuya để ủy lạo bạn hữu và giải tội cho một vài người. Sáng sớm hôm sau, tù nhân ở các phòng khác cũng được phép đến gặp và giã từ cha. Cha nói : “Thưa anh em, tôi dám xin mượn lời thánh Phaolô để nói với anh em rằng:’Anh em hãy noi gương tôi, như tôi đã noi gương Đức Kitô.’ (1 Cr 11,1)”. Cha con vui vẻ hàn huyên mãi không dứt, cho đến khi có lệnh ra pháp trường. Cha nhanh nhẹn đứng lên, cổ vẫn đeo gông nặng trĩu bước theo viên cai ngục.

          Ra đến cửa, cha gặp lại ông Phượng, người đã cho cha trú ngụ cũng bị đem đi xử, hai toán toán lính nhập làm một. Một anh lính cầm bản án đi phía trước: “Người này tên Hoan, Gia Tô đạo trưởng, dạy đạo tà và quyến rũ dân chúng. Vi phạm đến luật nhà nước là một trọng tội, phải đem đi xử trảm ngay”.

          Đến pháp trường, hai vị quỳ trên chiếu đã trải sẵn. Quan hỏi vị tông đồ có muốn trói vào cột không, cha trả lời: “Không cần, tôi sẽ quỳ yên không nhúc nhích. Nếu tôi không tự nguyện nhận cái chết, tôi đã chẳng đến đây. Xin cho tôi vài phút để cầu nguyện”.

          Sau đó cha ngước mắt lên trời tạ ơn Chúa, giơ tay giải tội cho ông Phượng và ra dấu sẵn sàng. Viên lý hình được chỉ định thấy thái độ dũng cảm của cha, biết cha vô tội nên nhờ người lý hình khác. Anh lý hình không quen đã phải chém đến ba nhát, sau đó dùng gươm cứa đứt miếng da còn sót lại.

          Trước đó, khi cha cởi áo, thấy hai mảnh “Áo Đức Bà” cha đeo phất phới trước ngực, một người lính tưởng là thứ gì quý giá thì xin, nhưng vị chứng nhân Chúa Kitô trả lời: “Cái này tôi không thể cho ai được. Đây là hình ảnh Đức Nữ Vương và là Bà Chúa của tôi”.

          Giờ đây vị tử đạo đã được Chúa đón về trời để gặp Đức Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo mà cha hằng tôn kính. Đức Piô X suy tôn linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan lên hàng Chân Phước ngày 02/05/1909. Ngày 19/06/1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

2. Thánh Emmanuel Nguyễn Văn Triệu[3] (Linh mục tử đạo, 1756 – 1798).

Cho tròn đạo hiếu

          Là một linh mục địa phận Đông Đàng Ngoài, với biết bao bận rộn vì công tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên người mẹ già ở quê nhà. Năm 1798 giữa cơn bách hại gay gắt của vua Cảnh Thịnh[4], nhất là tại kinh đô, cha đã xin phép bề trên cho về quê thăm mẹ, và ở lại gần ba tháng để xây dựng cho bà một mái nhà nhỏ xinh. Chính vì muốn trọn đời đạo hiếu với mẫu thân, mà vị linh mục đã bị bắt.

Không phải chúa Trịnh mà là Thiên Chúa

          Emmanuel Nguyễn Văn Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, Phú Xuân (nay là Huế). Thân phụ cậu, ông cai Nguyễn Văn Lương, là một võ quan công giáo phò chúa Nguyễn, đã bị tử trận trong một cuộc kim-long (11)tử chiến với Tây Sơn. Sớm mồ côi cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc[5], gia nhập quân đội năm 1771 khi mới 15 tuổi. Năm 1774, anh cùng các bạn gia nhập quân đội của vua Lê chúa Trịnh, chiếm được Phú Xuân. Đến khi Tây Sơn từ phía Nam đánh lên, trở thành chủ nhân ông mới của Phú Xuân, vệ binh Nguyễn Văn Triệu đành theo Trịnh Khải rút về Thăng Long (1786).

          Tháng 6 năm đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến ra Bắc lấy cớ phò Lê diệt Trịnh. Trinh Khải phải mổ bụng tự tử. Rồi vua Lê Cảnh Hưng băng hà, Lê Chiêu Thống lên ngôi, miền Bắc lại xảy ra nội chiến giữa hai phe Trịnh Lệ và Trịnh Bồng. Trong bối cảnh nhiễu nhương thay ngôi đổi chúa đó đã làm cho anh vệ binh Triệu phải suy nghĩ và đi đến quyết định dứt khoát cho cuộc đời mình.

          Ba mươi tuổi đời, mười lăm năm binh nghiệp với biết bao thăng trần, Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng vụ Vua trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực hơn. Mới đầu anh được một linh mục dòng Tên ở Hà Nội[6] hướng dẫn, nhưng sau anh được đức cha Obelar Khâm (đức cha Emmanuel Obelar) địa phận Đông Đàng Ngoài nhận vào học tại trường thần học Trung Linh. Và năm 1793, đức cha Alonso Phê (đức cha Feliciano Alonso) truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37 tuổi.

          Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm trong đời sống quân ngũ, và nhất là nhờ ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở thành một mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sau năm phục vụ trong địa phận Đông Đàng Ngoài, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên quí mến.

Đường vào lao tù         

          Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792 – 1802) tình hình chính trị trong nước ngày càng phức tạp. Nguyễn Anh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh, hùng cứ ở Gia Định, hằng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế. Hỗ trợ cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do đức cha Bá Đa Lộc (còn gọi là Cha Cả, nguyên tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine) chiêu mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi đức cha Lambert Bình[7] ở Phú Xuân nên nhà vua nghi ngờ đạo công giáo tiếp tay cho giặc.

          Một quan văn có đạo, quan thượng Hồ Cung Điều nhiều lần thanh minh trước mặt nhà vua rằng: “đạo dạy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải đạo dạy làm giặc đâu”. Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan nội hầu tên Lợi cứ gièm pha mãi, nên cuối tháng 8/1798, một chiếu chỉ cấm đạo được ban hành. Trước đó ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên trở về khu Thợ Đúc, Phú Xuân (Huế). Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa cách, hai mẹ con gặp lại nhau. Giờ đây mái tóc của người mẹ đã bạc phơ, còn con nay đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Cha Triệu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân phải ăn nhờ ở đậu  nhà người khác. Cha quyết định ở lại, cùng với bà con lối xóm dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Trong thời gian này cha Triệu nhân thể cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được các tín hữu ở đây thương mến nhiều.

          Ngày 07/08/1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, 4 cơ binh (1 cơ 50 quân) bất thần bao vây bốn giáo xứ vùng kinh đô. Tại xứ Thợ Đúc, quan quân có ý tìm cha chánh xứ (cha Nhơn) nhưng nhờ quan thượng Điều báo tin, nên ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, nên quan không biết, quan quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha Triệu và tra hỏi về các linh mục. Cha Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là người mà họ lùng bắt. Quân lính liền trói tay cha lại dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha Triệu dừng lại nói ít câu từ giã: “Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Ngài. Xin mẹ đừng khóc nữa. Mẹ hãy vui lòng vâng theo ý Chúa”.

Vượt qua gian khổ

          Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cồ mang gông, tay chân bị xiềng xích, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, chịu ba trận đòn dữ dội. Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quan ở Phú Xuân, vì hoàn cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong đạo và làm linh mục. Quan hỏi: “Thầy có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài?” Cha đáp: “Tôi không lấy vợ, vì là linh mục nên tôi sống độc thân”.

          Ngày 17/08 các quan định kết án voi giày nhưng một viên quan không đồng ý nên vụ án được trì hoãn.

          Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất, là được một linh mục cải trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến thăm. Cha an ủi bà, xin bà cầu nguyện nhiều cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ rãnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.

Giờ phút vinh quang

          Ngày xử được ấn định là 17/09/1798. Sáng sớm hôm đó, các quan hỏi cha lần cuối: “Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng về quê quán sinh sống không? Nếu thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho?” Cha Triệu khẳng khái trả lời: “Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chớ không bỏ việc giảng đạo”. Thế là đến 10 giờ sáng, cha Triệu bị điệu ra pháp trường cùng với 6 tên trộm cướp cũng bị tử hình hôm đó. Cha bước đi bình tĩnh, trang nghiêm như một chiến sĩ thận trọng trước giờ lâm chiến. Các tín hữu nghe tin lũ lượt đi phía sau. Đằng trước cha, một người lính cầm thẻ bài, đọc bản án; “Tên Triệu, con nhà Nguyễn Văn Lương, chuyên giảng đạo Hoa Loang, quyết rủ dân chúng theo đạo đáng ghê tởm ấy. Vậy y phải trảm quyết”.

          Tại Bãi Dâu, nơi thi hành bản án, cha Triệu quì xuống cầu nguyện. Theo thói lệ, quan phát cho mội tử tội một quan tiền để ăn uống trước khi chết. Cha từ chối, viên quan liền nói: “Của vua ban không được coi thường”. Cha trả lời: “Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gởi cho người nghèo”. Một người lính thấy thế liền tát vào mặt ngài một cái. Viên quan nổi giận và mắng anh ta: “Chưa đến giờ xử mà mi dám bạo ngược như thế sao?” Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói: “Khi nào đến giờ, tôi sẽ báo cho thầy”. Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.

          Đúng ngọ (12 giờ trưa), viên quan nói vơi vị linh mục: “Giờ đã đến rồi”. Cha Triệu quì lên giơ cổ cho lý hình chém. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu an táng tại họ Dương Sơn, sau được cải táng vào nhà thờ Dương Sơn, và hiện nay đã được cải táng đưa về nhà mai táng của giáo xứ Phường Đúc.

          Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27/05/1900. Đến ngày 19/06/1988, cha được Đức Gioan Phaolô II tôn phong Hiển Thánh.

3. Thánh Anrê Trần Văn Trông[8] (Giáo dân tử đạo 1814 – 1835).

Trong vòng tay người mẹ.

          Trong hành tích thánh Anrê Trần Văn Trông, người giáo dân xứ Huế, ta thấy nổi bật lên chân dung của một bà mẹ. Khi được tin con bị điệu ra pháp trường, mẹ của thánh nhân là bà Huỳnh Thị Gia đã vội vã chạy để kịp tiễn đưa con. Đức Giáo Hoàng Lêo XIII ca tụng bà đã thể hiện lòng can trường “theo gương Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Như Đức Maria dưới chân Thánh Giá dâng hiến Người Con Yêu Dấu, bà mẹ đó cũng có mặt trong cuộc hành quyết để hiến dâng người con trai duy nhất của mình. Bà đi bên cạnh con, không than khóc không sầu buồn, trái lại còn bình tĩnh vui vẻ khuyên con hãy bền chí đến cùng.

          Khi đầu Anrê Trông rơi xuống, bà mạnh dạn bước vào pháp trường kêu lớn tiếng trước mặt các quan : “Đây là con tôi, đứa con mà tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các ông trả lại tôi cái dầu của con tôi”. Nói xong, bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người con yêu quý, rồi đêm về mai táng trong nhà.

Tuổi xuân ước mơ.

          Anrê Trần Văn Trông sinh năm 1814 trong một gia đình Công Giáo ở Kim Long, Phú Xuân (nay là Huế). Cậu là con trai duy nhất trong nhà, thế mà năm 15 tuổi, người cha lại mất sớm, khiến gia đình lâm cảnh mẹ góa con côi. Để giúp mẹ mưu sinh, Anrê Trông đành giã từ sách đèn, theo chân bà con lối xóm về họ Thợ Đúc dệt tơ cho hoàng gia. Là người ngay thật, cậu không ăn bớt của công, luôn chăm chỉ làm việc và không ưa những chuyện gây gỗ, bất hòa. Mỗi buổi chiều, sau những giờ lao động mệt mỏi, cậu thường vác cần câu đến ngồi bên bờ sông Hương xanh biếc, để được gần gũi với thiên nhiên.

          Sử gia Rodriguez đã diễn tả tâm trạng của cậu qua những vần thơ sau (Martirologie III, pp. 158 – 159):

“Ôi êm đềm cảnh thiên nhiên trầm lặng,
Dưới ngàn cây râm mát thoảng hương hoa,
Nước lung linh nghe thanh thản tâm hồn,
Sông in dáng bóng non xanh xanh biếc…”

          Nhưng cuộc đời êm ả đó không kéo dài được lâu mãi. Đồng lương ít ỏi của người thợ dệt tơ không đủ nuôi sống gia đình. Năm 20 tuổi, Anrê Trông đành giã từ mẹ lên đường nhập ngũ.

Xông vào cuộc chiến

          Sau tám tháng phục vụ trong quân đội, tháng 11/1834, triều đình ra lệnh những binh sĩ Công Giáo phải ra trình diện. Không chút e dè, Anrê Trông với 12 đồng đội cùng ở khu Thợ Đúc đến “ra mắt” quan. Quan yêu cầu các anh phải tuân lệnh nhà vua bỏ đạo và đạp lên Thánh Giá. Cả 13 chiến sĩ Công Giáo đều cương quyết khước từ.kim-long (5) Các quan bèn dùng biện pháp tra tấn dã man… Lần lượt 12 người bỏ cuộc, chỉ còn mình Anrê Trông vẫn trung kiên đến cùng. Quân lính trói anh lại khiêng qua Thánh Giá, nhưng anh co chân lên quyết không xúc phạm đến ảnh Chúa. Thế là từ trại lính, anh bị tống qua trại giam. Các quan kết án tử hình, nhưng còn giam hậu, nghĩa là chưa xử ngay.

          Suốt một năm bị giam trong ngục, Anrê Trông chịu nhiều điều cơ cực khổ sở, nhưng niềm tin của anh qua những thử thách đó càng ngày càng vững mạnh. Anrê Trông sốt sắng cầu nguyện và đặc biệt phó thác đời mình cho Đức Mẹ, xin Chúa vì lời Mẹ Maria chuyển cầu ban cho ơn trung tín đến cùng. Những món quà tiếp tế nhận được, anh chia sẻ cho các bạn tù và lính canh ngục, nên được họ quý mến. Cũng chính nhờ đó, anh có cơ hội đặc biệt để đi xưng tội, rước lễ và thăm mẹ.

          Khi biết tin có cha Ngôn đang hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một ngày dưới sự giám sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh mục, Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa. Lúc đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anrê Trông liền bước qua thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ ra giữa dòng. Hai người nhỏ to “tâm sự” và anh quỳ xuống lãnh phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh ngỏ ý xin rước lễ, cha Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại nhà mẹ một đêm. Tả sao cho siết niềm vui của hai mẹ con được tái ngộ trong hoàn cảnh bất ngờ này. Mẹ anh đã hết lời khích lệ động viên anh kiên tâm vì đức tin.

          Tảng sáng hôm sau, Anrê Trông và người lính gác vội vã chèo thuyền đến điểm hẹn. Gặp lại vị “khách quý”, anh liền quỳ xuống lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn chúc lành : “Ước gì Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô sẽ gìn giữ con đến cuộc sống muôn đời”. Anh thưa: “Amen”. Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc mới lãnh nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên cai ngục.

Nỗi lòng hai mẹ con

          Sau một năm tù, không hy vọng gì Anrê Trông thay đổi ý kiến, các quan quyết định ngày xử là 28/11/1835. Sáng hôm đó, người chiến sĩ đức tin gặp được người anh họ mình. Anh ta hỏi có muốn ăn gì không? Anrê Trông trả lời: “Em muốn ăn chay để dọn mình tử đạo”, rồi nói tiếp: “Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì cho em cả, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện, và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết”. Nhưng thực tế, người anh họ chưa kịp nhắn lại. Bà mẹ Anrê Trông khi hay tin con bị đem đi xử, liền vội vã ra đón con ở đầu chợ[9], nơi con sắp đi qua, gặp con, bà chỉ hỏi một câu vắn tắt : “Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng, nếu có thì cho mẹ hay, mẹ sẽ trả thay con”. Tấm lòng người mẹ là thế đấy. Bà biết rõ con của mình đủ can đảm chịu mọi đau đớn, giờ đây bà chỉ lo cho con về đức công bình.

          Khi được con cho biết không vướng gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh thêm lời khích lệ. Đến nơi xử, sau khi quân lính tháo gông xiềng, người chiến sĩ đức tin liền đón lấy, trao cho người lính cạnh bên và nói : “Xin nhờ anh đưa dùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm”. Mẹ anh đứng gần nên nghe rất rõ, nhưng bà chưa lấy kỷ vật đó làm đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa.

          Chiêng trống nổi lên, lý hình vung gươm, dầu vị tử đạo 21 tuổi rơi xuống. Bà mẹ Anrê Trông chứng kiến ngay từ giây phút đầu tiên tại pháp trường, bà thỏa lòng dù rất khổ đau, bước ra đòi viên chỉ huy trao thủ cấp con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghì chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lắp lại : “Ôi con yêu quý của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ nhé”.

          Ngày 27/05/1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn người chiến sĩ anh hùng Anrê Trông lên hàng Chân Phước. Ngài không ngớt lời ca ngợi mẫu gương của bà mẹ hào hùng, đã họa lại gần trọn vẹn hình ảnh Đức Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo xưa trên đỉnh Can-vê. Ngày 19/06/1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

          Để nhắc nhở thế hệ mai sau về tấm gương tử đạo của thánh Anrê Trông, cha Giuse Maria Thích đã ghi trong Đệ Nhất Bách Chu Niên:

Tử đạo ấy tử trung tử hiếu[10]

Anrê Trông đã hiểu phân minh[11]:

Chúa là Cha cả chúng sinh,

Chúa là Vua cả thiên đình tối cao.

Mẹ sao trí con sao trung bấy[12]?

Ôi! Thanh phong lưu lại muôn đời.

Tôi vì Chúa phải đầu rơi,

Rơi vào tay mẹ, con thời toàn qui[13].

          Gia phả của Thánh Anrê Trần Văn Trông

              Cha Trần Văn Hoan

              Mẹ Huỳnh Thị Gia (Kim Long)     1. Bà Nương    3. Thánh Anrê Trông

                                                                   2. Bà Cậy         4. Bà Phước.

          Gia phả bà Huỳnh Thị Gia (họ ngoại của Thánh Trông)

                   Ông Huỳnh Văn Cẩn

                             1. Bà Sự      2. Ông Lệ*  3. Bà Huân.

                   Ông Lệ

                             1. Ông Thăng*     2. Bà Lịch             3. Ông Cơ

4. Bà Phong                   5. Bà Hân             6. Ông Phước

7. Ông Tính                   8. Ông Thiên.

                   Ông Thăng

                             1. Bà Gia*            2. Ông Lợi            3. Bà Của

                             4. Bà Tạ               5. Ông Tọa           6. Ông Định.

          Gia phả họ Huỳnh do cụ Giuse Huỳnh Viết Bài để lại (12/09/1959)

kim-long (3)

Đệ Nhất Bách Chu Niên

1861-1961

1- Trên Dực Chẩn vật hoa thiên bửu,

Dưới Hương Bình nhơn kiệt địa linh,

Kim Long phía hữu Xuân kinh,

Bên cầu Bạch Hổ tre xanh một màu.

2- Trời tuôn xuống biết bao ân sủng,

Đất trổ sinh hai đấng anh hùng,

Đoạn Trinh Hoan, Trần Văn Trông,

Một linh mục, một đội phòng cẩm y.

3- Sinh vào lúc loạn ly nguy biến,

Cha Hoan từ chủng viện xuất thân,

Dương Sơn, Lái Thiêu, Pinang,

Về Quy Nhơn mới phẩm thần thụ phong.

4- Bình -Trị – Huế, khắp vòng ba tỉnh,

Tiếng Phúc Âm kỉnh tỉnh đôi nơi,

Từ Sen Bàng đến Bái Trời,

Trong từ Nước Ngọt đến ngoài Thanh Hương.

5- Hăm lăm năm công ơn nắn đúc,

Mười một vì linh mục thành danh,

Triều thiên mười một huy tinh,

Gươm trần ba lát hồn linh thoát vòng.

6- “Tử đạo ấy tử trung tử hiếu”

Anrê Trông đã hiểu phân minh:

Chúa là Cha cả chúng sinh,

Chúa là Vua cả thiên đình tối cao.

7- Mẹ sao trí?  Con sao trung bấy,

Ôi! Thanh phong lưu lại muôn đời.

Tôi vì Chúa phải đầu rơi,

Rơi vào tay mẹ, con thời toàn quy.

8- Gương tử đạo danh thùy vạn cổ,

Hai anh hùng nước tổ hiển vang,

Nguyện xin từ chốn thiên đàng,

Đoái nhìn con cháu giáo đoàn Kim Long

9- Xin gìn giữ non sông đất Việt,

Nơi thấm nhuần giọt huyết hy sinh,

Xin cho hột giống Tin lành,

Trổ sinh hoa quả thái bình muôn năm.


[1] Lễ kính ngày 26/05.

(*) Theo tài liệu được Nguyễn Đức Cung trích dẫn trong bài viết “Giáo xứ Tam Tòa, các vị chủ chăn sống chết với đàn chiên”, “Linh mục Đoạn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại làng Vân Dương, tổng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, về sau dời đến làng Kim Long, tổng An Ninh, huyện Hương Trà cùng tỉnh. Ngài là con của ông Batôlômêô Đoạn Trinh Sương và bà Isave Diệm, là em của ông Đoạn Trinh Cung.”

[2] Giáo Hội Việt Nam ở đây cụ thể là Giáo phận Đàng Trong. Năm 1844, giáo phận Đàng Trong được tách thành 2 giáo phận là Tây Đàng Trong và Đông Đàng Trong. Năm 1850, giáo phận Đông Đàng Trong được tách thành 2 giáo phận là Bắc Đàng Trong và Đông Đàng Trong. Cha Hoan bị bắt tại vùng thuộc giáo phận Bắc Đàng Trong.

[3] Lễ kính ngày 17/09. Nguyễn Văn Triệu có quê nội là Phường Đúc, quê ngoại là Kim Long. Ngài được phụng kính đặc biệt tại giáo xứ Kim Long như hai vị thánh Gioan Hoan và Anrê Trông từ khi cha Giuse Hồ Thứ làm quản xứ. Do đó, trong Đệ Nhất Bách Chu Niên không có nhắc đến ngài.

[4] Nguyễn Quang Toản (17831802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế  là con trai thứ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Ông lên ngôi tháng 8 năm 1792, sau khi Nguyễn Huệ mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Tháng 8 năm 1801 ông đổi niên hiệu thành Bảo Hưng.

[5] Thợ Đúc là Phường Đúc bây giờ.

[6] Hà Nội là tên gọi sau này, lúc bấy giờ gọi là Đông Kinh dưới thời nhà Lê, sau đổi thành Bắc Thành dưới thời Tây Sơn.

[7] Lambert Bình (16/01/1624 – 15/01/1679) là giám mục giáo phận Đàng Trong, nhà truyền giáo người Pháp đã tham gia sáng lập Hội Thừa sai Paris ở châu Á, tên đầy đủ của ngài là Pierre Lambert de la Motte.

[8] Lễ Kính ngày 28/11

[9] Chợ ở đây là chợ An Hòa. Ngày xưa, chợ An Hòa là nơi nhiều vị được hồng ân tử vì đạo, trong đó có thánh  Anrê Trông. Ngày nay, chợ An Hòa đã chuyển sang vị trí mới, gần với đường chính; còn vị trí chợ cũ nay là trường tiểu học Hương Sơ.

[10] Tử trung tử hiếu: trung với “Vua Cả” trên trời, hiếu với “Cha Cả” trên trời.

[11] Phân minh: rõ ràng và dứt khoát. Thánh Anrê Trông không hiểu trung hiếu theo nghĩa đời thường là trung với vua và hiếu với cha mẹ. Người ta thuật truyện có người đồng sự với Đội Trông đến khuyên ngài trong ngục: “Hãy giả đò bỏ đạo để sống mà nuôi mẹ, như vậy giữ được trung với hiếu: trung với vua, hiếu với mẹ”. Anrê Trông lúc đó đã trả lời dõng dạc: “Đừng nói trung hiếu với tôi. Tôi đã hiểu thế nào là trung hiếu. Tôi không thể bỏ đạo mà còn trung hiếu với Vua và Cha Cả trên trời được!”.

[12] Sử Hán khen mẹ con Vương Lăng;

“Mẫu hề hà trí                                       Dịch:        “Mẹ sao khôn thế?

Tử hề hà trung                                                       Con sao trung thế?

Nhất ngôn mẫu tử                                                  Một nhà mẹ con

Vạn cổ thanh phong.”                                            Muôn đời tiếng thơm.”

[13] Toàn qui: Trở về nguyên vẹn. Ý nói thân xác cha mẹ sinh ra nguyện vẹn, phải giữ nguyên vẹn cho đến lúc chết. Chết không toàn thây, cũng như chết không con là bất hiếu. Thánh Anrê Trông chết mà không bị mất đầu, trả toàn thây về cho mẹ.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: