GIÁO XỨ KIM LONG

Trang chủ » 'GIÁO XỨ KIM LONG » "Tin tức » BÀ MARIA MAĐALÊNA, MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI (1568-1649)

BÀ MARIA MAĐALÊNA, MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI (1568-1649)

MẸ LÊN TRỜI – BỔN MẠNG GIÁO XỨ

LỊCH GIA ĐÌNH GIÁO XỨ

Tại Thuận Hóa, phong trào tòng giáo lan rộng là nhờ hành động truyền giáo và gương sáng của bà tiết phụ chúa Nguyễn Hoàng (chúa đã được cha Ordonez rửa tội, thánh hiệu là Gregori, ngày 17-9-1591). Bà là vợ thứ 10 của chúa Nguyễn Hoàng, tước hiệu Minh Đức Vương thái phi. Lúc sinh Hoàng Khê, bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn Hoàng 64 tuổi. Bà được lãnh nhận Rửa tội năm 1625, (lúc ấy bà chừng 51 hay 52 tuổi), tên thánh là Maria Ma-đa-lê-na, tại Phước Yên, do cha Francesco di Pina, Dòng Tên, người Ý. Cha Pina từng giảng đạo tại Hội An, Qui Nhơn, Cửa Hàn từ năm 1617. Cũng năm nay, tháng 12- 1625, cha Pina qua đời tại ven biển Đàng Trong (châu Hóa, tỉnh Thuận Hóa). Theo cha Đắc Lộ, người có mặt trong Lễ Rửa tội của Bà Minh Đức, thì trước kia “bà  là người rất sùng Phật.” Khi đã theo Công giáo, Bà lại đem hết mình phụng sự đức tin, mà còn sót sắng hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ đã là nhân chứng về đời sống sống đạo của Bà:

“Trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này, tôi vẫn gặp bà, và tôi tưởng rằng từ 28 năm nay, bà vẫn một lòng bền đỗ trong sự thực hành đầy đủ các nhân đức Công giáo.

“Bà lập ra trong Dinh bà một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong mọi cơn cấm đạo ngặt nghèo; ngày ngày bà làm các việc đạo đức trong nhà nguyện đó, và bà mở rộng cửa cho các giáo hữu cả tỉnh đến cầu nguyện; trong tỉnh này, quyền thế của bà rất lớn, một lời bà nói ra không ai dám cưỡng. Bà đã dùng các lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với đức Tin Công giáo, trong số đó có cả ngững người họ hàng với nhà chúa. Hiện nay bà vẫn là nơi nương tựa của tất cả các giáo sĩ chúng tôi, và chẳng có giáo hữu nào mà bà chẳng hết lòng giúp đỡ”.

Bà Minh Đức hằng lo lắng cho con cháu được ơn Rửa tội. Vì Hoàng Khê con bà là nhân vật quan trọng trong Triều nên bà đã xin các vị giáo sĩ tìm cách chinh phục dùm. Đã có lúc ông sẵn sàng, nhưng sau ngăn trở lại hoãn lại. Nhưng bà cũng đạt được mong ước đối với một số con cháu. Bà đã trao phó cho cha Busomi 6 đứa con cháu, gồm một cô gái 20 tuổi, có lẽ là con của Hoàng Khê, vì ông này có tới 29 con, 13 trai và 16 gái.

Ngoài ra, bà còn làm việc truyền giáo giữa đồng bào khắp nước. Bà nhiệt thành việc truyền giáo dưới mọi hình thức, như gây dựng nhà thờ, giúp đỡ giáo sĩ, che chở giáo dân, làm gương sáng, khuyến dụ nhiều người trở lại với Chúa… Bà thật là bậc tiền hô, là chiến sĩ buổi đầu đối với tổ chức Công giáo Tiến hành. Thật vậy, chỉ 4 năm sau khi bà Minh Đức được lãnh nhận bí tích Rửa tội, 1625, số giáo hữu đã tăng lên tới 15,000 tín hữu vào năm 1629. Tiếp 10 năm sau, khi nhiệm vụ của cha Busomi chấm dứt, 1639, số giáo hữu lên tới 50,000 người.

Cha Đắc Lộ trở lại Đàng Trong năm 1640, lên thẳng kinh đô, cha gặp lại bà Minh Đức. Cha có lần nói: “Bà lớn này về phương diện đạo đức lại còn lớn hơn nữa”. Cha ở lại trong dinh, tại nhà nguyện của Bà. Đây phải gọi là “Trung Tâm Truyền giáo đầu tiên”. Trong 30 ngày, cha đã rửa tội được 94 người, gồm 3 bà có họ rất gần với bà Minh Đức. Nhất là nhờ bà, có một thầy chùa trở lại. Ông này sau rất nhiệt thành và được ơn lạ lùng là khuyên bảo được nhiều người trở lại Công giáo. Cũng như ở Đàng Ngoài, cha Đắc Lộ đã lập Hội Thầy Giảng ở Đàng Trong. Đứng đầu là thầy Inhaxiô. Ông này trước kia có gia đình, sau vợ chết, xin giúp việc trong dinh ông Hoàng Khê. Nhờ gương sáng và ảnh hưởng của bà Minh Đức, Inhaxiô trở lại, và trở nên một đầu mục giúp cha Đắc Lộ rất sốt sắng. Sau 8 tháng, cha Đắc Lộ buộc phải theo lệnh trục xuất, Bà Minh Đức và các thầy giảng, nhất là Inhaxiô tất cả đã nên riềng cột cho giáo dân khi vắng bóng các linh mục. (Minh Đức Vương Thái Phi, PĐK. tr.28).

Phái đoàn truyền giáo do các thầy giảng VN, đứng đầu là thầy I-nha-ti-ô. Chỉ trong thời gian ngắn 3 tháng, các thầy đã Rửa tội được 303 người. Thầy Inhatiô trước tiên hoạt động tại Thuận Hóa, kinh đô của chúa Nguyễn. Tại đây, các thầy rất phấn khởi gặp được sự giúp đỡ tận tình đặc biệt của Bà Minh Đức. Riêng thầy giảng Inhatiô lại càng có liên hệ mật thiết với bà, vì trước khi tòng giáo, Inhatiô đã từng làm quan trong dinh ông Tổng trấn Nguyễn phúc Khuê, con trai bà. Do đó, nhờ gương sáng của bà mà trở lại Công giáo. Nay Inhatiô đã là lãnh tụ của các thầy giảng, trong khi bà Mai Hoa đã trở nên người cầm đầu các giáo hữu, hai tông đồ gặp nhau, họ càng chiếu sáng đức Tin ở chốn kinh đô.

Ngoài ra bà Minh Đức Vương Thái Phi và các thầy giảng còn được sự cộng tác đắc lực của các giáo hữu Công giáo từ các nơi xa thường xuyên liên lạc với kinh đô, để làm việc truyền giáo. Lễ Sinh nhật năm 1643, đoàn thầy giảng đang có mặt tại Kinh đô. Và lịch sử Giáo Hội VN đã được ghi “Một cuộc mừng Lễ Sinh Nhật khá long trọng, tổ chức ngay trong Dinh ông Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khuê, con bà Minh Đức. Tại đây, thầy giảng An-rê (Người Chứng Thứ Nhất), vốn có tài khéo léo, đã dựng nên một hang đá rất đẹp, có tượng Chúa Hài Đồng, nằm trong Máng cỏ, giữa thánh Giuse và Đức Mẹ Maria. Giáo hữu khắp vùng kéo tới viếng lạy Chúa Hài Đồng. Chính ông Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khuê cùng tất cả con cháu, gia nhân, cũng “đến thờ lạy và triều yết Vua vinh hiển xuống thế làm người”. Vì không có linh mục, không có Thánh lễ Misa, nhưng có một điều đặc biệt: Một phụ nữ đã mạnh dạn và sốt sắng lên tiếng trước mặt đông đủ các giáo hữu và quan khách, để giảng những sự cao cả về Chúa Giáng trần. Phụ nữ ấy không ngoài ai khác hơn là Bà Minh Đức, mẹ quan Tổng trấn, bà Dì của Chúa Thượng. Bà Minh Đức chẳng những sống hết đời chúa Nguyễn Hoàng và chúa Sãi, mà còn sống sang đời chúa Thượng, đến đầu đời chúa Hiền là chắt nội chúa Nguyễn Hoàng nữa.

Nhưng từ ngày tòng giáo, Bà Minh Đức đã phải đương đầu với biết bao nỗi gian nan và gặp biết bao đau khổ. Như mối đau chịu tang của cha thiêng liêng, Francesco di Pina, vị rửa tội cho bà, khi hay tin cha bị chết đuối tại cửa Hàn; như nghi kỵ cho là bà có nhờ giáo sĩ tìm cắt đất đặt mồ mả cho mình và con cháu; như vụ bà Tống Thị lộng hành, là “dâm hậu” trong cung chúa Thượng, bà này rất ghét người theo Công giáo, sát hại thầy giảng Anrê, làm bà Minh Đức đau đớn muôn ngàn. Cuộc tử đạo của thày giảng Anrê, 26-7-1644, mở đầu giai đoạn đau thương của Giáo Hội VN, cũng là đem lại cho bà Minh Đức cuộc tử đạo hai phần hồn xác. Nhưng nỗi đau đớn nhất là con bà ,ông Hoàng Khê, để lấy lòng chúa Thượng, ông đã cho phá nhà nguyện của mẹ, ngày 20-2-1645. Về việc đau khổ này, bà Minh Đức đã bỏ nhà con ra đi suốt 8 ngày, than khóc vì nhận tội con như tội của chính mình. Chỉ năm sau, 22-8-1646, ông Hoàng Khê qua đời, không được rửa tội! Cái chết chưa được rửa tội của con, càng làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng!

Vào khoảng giữa tháng 2-1645, một tàu bị bão trên đó có 4 nữ tu dòng Kín Clara và 2 giáo sĩ Phanxicô, chạy vào ẩn tại cửa Hàn. Chúa Thượng được tin, mời họ lên kinh đô yết yến. Trước đó, các bà còn ở lại Thuận Hóa 10 ngày (cuối tháng 2-1645), bổn đạo kéo tới đong thăm các bà. Nhất là bà Minh Đức, đã kín đáo gặp và tỏ lòng xin các bà một bộ áo Dòng, như dấu hợp nhất  tâm hồn, và xin sẽ mặc áo vào mình trong giờ chết và an táng. Các chị Dòng đã cho theo ý bà Minh Đức, sau đó họ từ giã nhau. Điều này chứng tỏ lòng mong ước của bà, và kể như bà đã được nhận là nữ tu của Dòng, vì là hoàn cảnh đặc biệt. Các cha và cà các bà đã nhận bà Minh Đức làm thành viên của hội dòng Phanxicô và Clara.

Theo các tài liệu, bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649. Như vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.

Thật là một lời ca ngượi chân thành đối với sự nghiệp tông đồ của Bà Matia Mađalena Minh Đức Vương Thái Phi: Nếu người ta nói nhà truyền giáo là một Giêsu thứ Hai, “Alter Christus”, thì trong trường hợp này cũng có thể nói: Bà Minh Đức là một “Maria thứ Hai”. Và nếu nói các cha Busomi và Đắc Lộ là những nhà khai sáng Giáo Hội VN, thì Bà Minh Đức là người Đồng Công khai sáng Giáo Hội VN. Đời sống của Bà thật “là ánh sáng… chiếu sáng trước mặt dân chúng để họ xem thấy việc lành của Bà mà ngượi khen Thiên Chúa Cha chúng ta ở trên trời” (Mt 5:14-15).

Chính nhờ ký sự của giáo sĩ Saccano, chúng ta được biết về cái chết của bà Minh Đức: “Hổi ấy giáo Hội Đàng Trong rất đau buồn về cái chết của bà Vương phi Maria, là cô mẫu của vua mới chết (Công Thượng Vương, mới từ trần ngay 19-3-1648). Các giáo hữu đã phải thiệt hại rất nhiều vì sự từ trần của bà chúa này, Lúc sinh tiền đã che chở họ trong những cơn đau buồn, và rất sốt sắng chinh phục các linh hồn cho Chúa Giêsu. Bà tôn kính giữ Nước Phép trong nhà để phân phát cho các giáo hữu. Việc ấy đã làm cớ cho một trong những cháu nội của bà, (tức là con cả của Hoàng Khê, đã làm trưởng tộc từ năm 1646), phao đồn đi khắp nơi rằng Nước phép của bổn đạo là một thứ bùa ếm, làm bằng chân và tay chặt của trẻ em. Tiếng đồn này làm cho người ta ghê tởm người Công giáo. Nhưng kẻ phao đồn chẳng bao lâu đã bị Trời phạt: Nó bị chúa Hiền xử tử vì một tội xấu xa là dám thông đồng cùng cô mẫu của vua đương triều, tức là bà Tống Thi. Bà Tống Thị này, sau này cũng bị chúa Hiền xử tử (PĐK sách Minh Đức VTP tr. 88).

Không có linh mục nào có mặt giúp bà Minh Đức lúc lâm chung, vì lúc ấy cha Saccano vắng mặt, và nếu có mặt cũng không thể rời Hội An để lên kinh đô làm việc tôn giáo. Nhưng chắc chắn Bà Minh Đức vẫn trung thành giữ đạo cho đến hơi thở cuối cùng. Mặc dầu Chúa đã an bài cho bà một lối chết, nhưng cuộc đời của bà đã là một đường thánh giá liên tiếp, thì cái chết của bà, cuối năm 1648 hay đầu năm 1649, cũng phải là cuộc tử đạo thiêng liêng vậy! Bà hưởng thọ 80 tuổi, thủ tiết 36 năm và can đảm giữ vững đức tin, và tận tụy với công cuộc truyền giáo suốt 24 năm. Khi bà Minh Đức qua đời, Giáo hội Đàng Trong đã được 60,000 tín hữu.

(xin đọc: Princesse Chretienne của Cadière; Relation Progres Foi của A.R. tr. 34-35; 47;  Minh Đức Vương Thái Phi và Người chứng thứ Nhất (tr.47; 89) của Phạm Đình Khiêm)

Bài viết của một linh mục ẩn danh

nguồn: dongcong.net

——————

MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI TRỞ LẠI CÔNG GIÁO TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO?

Trong cuốn ký sự về việc truyền giáo của Dòng Tên (1) trong khu vực Nhựt Bổn, giáo sĩ Cardim, người Bồ Đào Nha, có tới giảng đạo tại Việt Nam, đã viết một đoạn như sau:

“Cha Francois Basom (tức Buzomi theo tiếng Ý) không hề ra khỏi xứ Đàng Trong, vì quan trấn thủ tỉnh Pullolambi (tức Poulo Cambi: Quy Nhơn ngày nay) giữ ngài trong tỉnh mình; ngài ở đó cho tới khi Bề trên sai mấy bạn đồng liêu đến học tiếng với ngài; bấy giờ lòng giận dữ của vua quan và dân chúng đã nguôi, các giáo sĩ ấy mới đến thăm chúng tôi ở Cacciam (Kẻ Chàm: Quảng Nam). (2)

“Tại đây các linh mục ấy đàm luận nhiều lần với các sư vãi, đem hết lý lẽ ra thuyết phục các nhà sư, được kết quả làm cho nhiều người trở lại cùng Thiên Chúa. Trong số những người ấy có một bà vương phi vợ lẽ của vị chúa đã qua đời, cùng nhiều người trong hàng vọng tộc và nhiều ông quan cũng trở lại đạo: tính đến năm 1629, số người nhập đạo lên tới trên 15.000”(3).

Mấy hàng vắn tắt trên đây, gợi lại trong trí chúng ta bao nhiêu trang sử tốt đẹp của việc truyền giáo buổi đầu ở nước ta do các giáo sĩ Dòng Tên phụ trách: những trang sử ấy càng thêm huy hoàng vì được chiếu rọi bởi một ngôi sao sáng lạn: bà Vương phi Minh Đức.

Các Giáo Sĩ Dòng Tên Mở Việc Giảng Đạo Ở Việt Nam

Trước thế kỷ XVII, đã có nhiều giáo sĩ đạo Thiên Chúa đặt chân tới nước Việt Nam, nhưng công cuộc truyền giáo xứ này thường được coi là đích thực khởi sự từ khi có mặt các giáo sĩ Dòng Tên.

Ngày 18 tháng 1 năm 1615, đời chúa Sãi, hai giáo sĩ Dòng Tên, Francesco Buzomi, người Ý và Diego Carvalho, người Bồ Đào Nha, lên bộ ở Cửa Hàn. Họ được chúa Nguyễn cho phép lưu trú và lập nhà thờ giảng đạo. Carvalho chỉ ở lại một năm, còn Buzomi ở lại cho đến năm 1639, lập nên một sự nghiệp lớn lao, đáng kể là vị khai sáng Giáo hội Đàng Trong.

Trong khoảng 10 năm tiếp đó, có tất cả chừng 21 tu sĩ Dòng Tên (17 linh mục, 4 thầy phụ tá) đến giảng đạo, trong số đó, nổi tiếng nhất là các cha: Francesco di Pina, đến năm 1617; Christoforo Borri (ngài để lại một cuốn ký sự rất có giá trị đối với lịch sử chính trị, xã hội, và tôn giáo nước ta thời ấy)(4) và Pedro Marquez, đến năm 1618; Alexandre de Rhodes, đến năm 1624.

Trong thời kỳ ấy cũng như về sau này, các giáo sĩ có khi được lòng vua quan dân chúng thì việc truyền giáo rất dễ dàng, có khi lại bị dân chúng ghen ghét gièm pha, vua quan bắt bớ, cấm ngăn việc giảng đạo. Dầu vậy các giáo sĩ cũng lập được nhiều họ giáo ở Kẻ Chàm (Cacciam), ở Cửa Hàn (Đà Nẵng, Tourane), ở Hội An (Faifo) và ở Nước Mặn (Quy Nhơn, Bình Định).

Tài liệu kể trên nói việc quan trấn Quy Nhơn lưu cha Buzomi ở tỉnh mình, điều đó phù hợp với bản ký thuật của giáo sĩ Borri (5). Khi ấy, cha Buzomi đang ở Cửa Hàn, bị quan dân đọa đày, sống khổ cực thiếu thốn, lại mang bệnh tật; quan trấn Quy Nhơn nhân có việc lên Quảng Nam, thấy cảnh động lòng liền rước cha về Quy Nhơn săn sóc. Các cha Pina, Borri cũng đi theo cha Buzomi sau mới lại về Hội An và Cửa Hàn.

Tài liệu trên lại kể, trong số những người mới nhập đạo, có bà Vương phi, vợ lẽ chúa đã qua đời. Tác giả đang kể những việc xảy từ năm 1615 đến 1629, nghĩa là dưới thời chúa Sãi, tức Nguyễn Phúc Nguyên, con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng.

Chúa Nguyễn Hoàng, thọ 89 tuổi, đã chết từ năm 1613. Bà Vương phi còn sống lúc đó không ai khác ngoài bà vợ trẻ nhất của chúa tức bà Minh Đức Vương thái phi, như các tài liệu khác cũng công nhận.

Nhưng bà Minh Đức trở lại đạo do giáo sĩ nào khuyên bảo, năm nào và ở đâu?

Bà Minh Đức trở lại đạo…

Trong một cuốn ký sự, giáo sĩ A-Lịch-Sơn Đắc Lộ có kể việc như sau:

“Lúc ấy tôi đang ở tỉnh Chàm (Quảng Nam) là nơi có nhiều người trước thờ bụt thần nay đã chịu phép rửa tội.

“Từ đó, chúng tôi khởi hành đi kinh đô; dọc đường chúng tôi nghỉ lại ít ngày tại tỉnh Hoá, nơi đây có một bà trong số những bà lớn nhất trong nước, có họ rất gần với chúa, và trước kia rất sùng bụt thần, sau khi được nghe cha Pina giảng đạo, được ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng, liền bỏ hẳn sự lầm lạc dối trá, chịu phép rửa tội, lấy tên thánh là Maria Mađalêna, rồi từ đó trở nên cột trụ cho hội giáo mới này.

“Gương sáng và uy tín của bà là lợi khí rất mầu nhiệm làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại và làm cho những bổn đạo mới chịu phép Thánh tẩy được vững lòng giữ đạo”. (6)

Bà Maria Mađalêna mà giáo sĩ Đắc Lộ nói đây, không phải ai khác mà chính là “bà Vương phi, vợ lẽ vị chúa đã qua đời” trong tài liệu của giáo sĩ Buzomi đã kể trên. Cha Đắc Lộ ở đây không nói đến lai lịch bà mà chỉ ghi bà là một trong số những bà lớn nhất trong nước, có họ rất gần với vị chúa đương thời, tức Sãi Vương, con kế nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng. Giáo sĩ Đắc Lộ chỉ kể “tên thánh” của bà, nhưng đối chiếu sử liệu Việt Nam, ta biết chắc chắn, người mang tên thánh đó ở hoàn cảnh lịch sử đó, không ai khác ngoài bà Vương thái phi Minh Đức, mà mối liên hệ với chúa đương thời, là liên hệ của kế mẫu với con chồng.

Chiếu theo tài liệu này của cha Đắc Lộ thì bà trở lại đạo do giáo sĩ Pina khuyên giảng và làm phép rửa tội. Còn theo tài liệu trên kia của cha Cardim, người ta biết rằng bà trở lại trong dịp nhiều nhà sư cũng xin tòng giáo.

Vậy, cuốn ký sự của giáo sĩ Borri cho biết rằng chính giáo sĩ Pina là người “rất thạo tiếng Nam, đã làm cho nhiều người nhập đạo, trong đó có cả mấy ông sư…”

Giáo sĩ Francisco di Pina, dòng Tên, người Ý, đã tới Việt Nam từ năm 1617 như đã nói trên, đã giảng đạo ở Hội An, đã theo cha Buzomi xuống Quy Nhơn rồi trở lại Cửa Hàn. Ông chết năm 1625 tại ven biển Đàng Trong, trong khi thừa hành nhiệmvụ truyền giáo đối với thuỷ thủ Bồ Đào Nha.

Châu Hóa, năm 1625……

Cũng nhờ tài liệu của giáo sĩ Đắc Lộ mà chúng ta có thể biết được bà Minh Đức rửa tội thời kỳ nào và ở đâu.

Quả thực, sau khi kể việc bà Maria trở lại đạo và nên cột trụ cho hội giáo mới, giáo sĩ Đắc Lộ có thêm câu này: “Tôi tưởng rằng bà ấy vẫn một lòng bền đỗ như vậy từ 28 năm nay”. Cuốn sách của giáo sĩ viết và in năm 1653. Trừ đi 28 năm, chúng ta biết được năm bà chịu phép rửa tội: 1625 – cũng là năm giáo sĩ Pina qua đời.

Lúc ấy giáo sĩ Đắc Lộ vừa mới tới Việt Nam, vào khoảng tháng chạp 1624, hoặc tháng giêng 1625, thoạt đầu ở tại Kẻ Chàm (Quảng Nam). Ít nhất giáo sĩ cũng phải học tiếng sáu bảy tháng rồi mới theo cha Pina đi làm việc truyền giáo trong cuộc hành trình này. Vậy hai giáo sĩ có tới “tỉnh Hóa” cũng vào khoảng giữa hoặc cuối năm 1625.

“Tỉnh Hóa” là tỉnh nào? Không phải là thành Huế vì khi đó chưa có Huế. Chúng ta nhớ rằng, đời Trần, vua Chiêm Thành dâng châu Ô, châu Lý để cưới nàng Huyền Trân. Vua nước ta đổi tên hai châu ấy thành châu Thuận, châu Hóa. Riêng châu Hóa thì ăn từ phía Nam Quảng Trị, qua tỉnh Thừa Thiên xuống đến phía Bắc Quảng Nam ngày nay. Tiếng tỉnh Hóa của giáo sĩ hẳn là chỉ “châu Hóa”, một trong hai địa hạt của tỉnh Thuận Hóa bao la.

Kinh đô chúa Nguyễn bấy giờ ở đâu? Vẫn còn ở Trà Bát, cách Quảng Trị 10 cây số về phía Bắc, nghĩa là trong châu Thuận. Nhưng sách “Đại Nam thực lục tiền biên” cho biết rằng, tháng 3 năm Bính Dần, tức tháng tư năm 1626, chúa Sãi dời đô về làng Phước Yên trong châu Hóa cách thành Huế ngày nay 10 cây số về phía Bắc.

Vậy khi ấy, trong châu Hóa, có địa điểm nào quan trọng hơn, nơi ấy hẳn là Phước Yên. Vả lại việc dời đô không phải trong một ngày mà nên. Nếu nhà vua chánh thức di đô vào tháng 3, thì ít là trước đó 5, 7 tháng hay một năm, nhiều cơ sở của chúa Nguyễn hẳn đã di chuyển trước rồi.

Và bà Minh Đức cùng Hoàng tử Khê có lẽ cũng đã từ giã Trà Bát, đến lập dinh trước tại kinh đô mới rồi. Cho nên có thể kết luận rằng, các giáo sĩ Pina, Đắc Lộ, trên con đường đi Trà Bát (kinh đô) đã dừng lại ở Phước Yên, nơi sắp thành kinh đô trong mấy tháng nữa, và lúc ấy đã có phố phường, dinh thự. Thế rồi chính ở nơi này, bà Minh Đức được nghe giáo sĩ Pina giảng thuyết, được ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng và được chịu phép Rửa tội.

——

Chú thích

(1) Tiếng thông thường để chỉ Dòng Đức Chúa Giêsu (Compagnie de Jésus viết tắt S.J).

(2) Các bản ký thuật của các giáo sĩ thường dùng danh từ Cacciam, Cacham, Cachan, hoặc Cham, có khi chỉ xứ Quảng Nam, tỉnh Quảng Nam; có khi chỉ nơi trú đóng của cơ sở hành chánh tỉnh Quảng Nam hồi ấy. Tiếng đó bắt nguồn bởi tiếng “Chàm” chỉ đất cũ của người Chàm, xứ của người, “kẻ Chàm” mà ta mới chinh phục.

Ông Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa năm 1558, đến năm 1570, ông sát nhập thêm “xứ” Quảng Nam, từ Cửa Hàn (Tourane) vào đến ngang đèo Cù Mông, phía Nam Quy Nhơn ngày nay (theo Thực Lục tiền biên). Năm 1682, ông tổ chức “dinh” Quảng Nam, và cử người con thứ sáu (tức Sãi Vương sau này) làm Trấn thủ đầu tiên “dinh” này. Các cơ sở hành chánh quân sự của quan Trấn thủ đặt tại địa điểm này là làng Cần Húc huyện Duy Xuyên.

(3) Francois Cardim: Relation de la province du Japon écrite en Portugais par le Père Francois Cardim de la Compagnie de Jésus, procureur de cette province, Tournai 1645.

(4)&(5) Christoforo Borri: Relation de nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Lille 1631.

(6) Alexandre de Rhodes: Divers Voyages et Missions du P.Alexandre de Rhodes en la Chine, et autres royaumes de l’Orient, avec son retour en Europe par la Perse et l’Arménie, Paris 1653.

Tác giả Phạm Đình Khiêm

————

Lễ Giáng Sinh do người phụ nữ đầu tiên chủ tọa tại Việt Nam

   Ngày 24 tháng 11 năm 2009 tại Sở Kiện, Giáo hội Công giáo Việt Nam hân hoan tổ chức lễ khai mạc Năm Thánh Toàn Xá, đánh dấu giai đoạn lịch sử 350 năm thành lập hai Giáo phận Tông Tòa, đồng thời mừng Ngân Khánh 50 năm thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và tri ân các bậc tiền nhân, những nhà truyền giáo đã một thời có công đem Tin Mừng đến cho dân tộc.

  Nhân đây, theo dòng thời gian, chúng ta cùng tìm hiểu, ôn cố tri tân về một buổi lễ Giáng Sinh được tổ chức long trọng tại Việt Nam cách đây 366 năm (1643 – 2009) lại do một người phụ nữ Việt Nam lần đầu tiên chủ sự và giảng thuyết.

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIÁO HỘI THẾ KỶ XVII

  Qua tra cứu sử sách ghi lại buổi lễ mừng Chúa Giáng Sinh được tổ chức đầu tiên trên đất nước Việt Nam vào năm 1643 đang trong thời kỳ phân tranh Trịnh – Nguyễn chia nhau giang sơn. Chúa Trịnh cai trị miền Bắc còn gọi là Đàng Ngoài, trong khi đó Chúa Nguyễn hùng cứ miền Nam còn có tên là Đàng Trong, lấy con sông Linh Giang làm ranh giới.

  Riêng tình hình Tôn giáo lúc bấy giờ không kém phần bi đát. Đạo Thiên Chúa đã bắt đầu bị cấm đoán và bách hại. Nhà cầm quyền cho là Đạo ngoại lai, bởi vậy ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh Tráng (1625 – 1658) đã ban hành 5 sắc chỉ cấm đạo. Còn ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phước Nguyên (1615 – 1635) cũng đã ban hành lệnh cấm đạo từ năm 1625.

  Trong những thời kỳ trên cũng như về sau này, các giáo sĩ ngoại quốc len lỏi đến giảng đạo có khi được lòng vua chúa, quan quyền địa phương thì việc truyền giáo dễ dàng, có lúc lại bị dân chúng, quan quân dèm pha, ghen ghét khiến vua chúa bèn ra lệnh bắt bớ, ngăn cản giáo dân giữ đạo một cách ác liệt. Riêng hàng giáo sĩ bị trục xuất hoặc truy lùng gắt gao, nếu bị bắt sẽ phải tù tội hoặc xử tử. Bởi vậy, sự có mặt của các giáo sĩ nước ngoài đến truyền giáo rất khó khăn, dễ lộ diện nên phải sống ẩn dật, chẳng dám công khai đi lại. Thời gian ăn ở sinh hoạt lâu dài hoặc lui tới thăm viếng sẽ làm khổ liên lụy đến giáo dân nên bắt buộc các ngài phải lánh đi xa.

  Việc hạn chế sự hiện diện của các giáo sĩ trong giai đoạn lịch sử này là một thiệt thòi cho cánh đồng truyền giáo nước Việt. Nhưng may thay, một số tín hữu đầu tiên của Giáo hội Việt Nam, ngay sau khi tiếp nhận đạo Chúa đã ý thức rõ ràng nghĩa vụ truyền giáo và họ đã trở nên những Tông đồ nhiệt thành len lỏi đi loan báo tin mừng của Đức Kitô đến những người đồng hương, làm thế cho các vị giáo sĩ vì lý do bất khả kháng không đến được.

  Trong số những giáo hữu đi đầu trong công cuộc mở mang nước Chúa, chúng ta phải kể đến đoàn “Thầy giảng” bản quốc ở Đàng Trong do chính giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) huấn luyện gồm 10 người đầu tiên. Sau thời gian đi làm nhiệm vụ có đến 3 người được phúc Tử Đạo, trong đó Thầy giảng Anrê Phú Yên. Bên cạnh những Giáo đoàn sơ khởi này, ta phải đặc biệt tri ân một người phụ nữ đã có công đầu trong việc rao giảng Tin Mừng mở mang nước Chúa trên quê hương. Đó là bà Maria Mađalêna Minh-Đức Vương Thái Phi, người can đảm đứng đầu tổ chức lễ Giáng Sinh đầy ấn tượng, đáng ghi nhớ trong lịch sử Giáo hội, còn làm vẻ vang nữ giới nước Việt, khiến cho các giáo sĩ nước ngoài cảm phục, hết lời ca ngợi.

II. NGÀY LỄ GIÁNG SINH DO NGƯỜI PHỤ NỮ CHỦ TỌA ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM

  Theo các sử kiện để lại, sau ngày được phước gia nhập Đạo, bà Maria Mađêlêna Minh-Đức Vương Thái Phi đã cho xây dựng nơi bà cư ngụ một ngôi nhà thờ nhỏ, tọa lạc ngay bên dinh ông Quận công Nguyễn Phúc Khê – con bà, thuộc khu đất vùng Kim Long hoặc miền phụ cận ngoại ô thành phố Huế ngày nay. Đây là nơi tập trung các tín hữu toàn tỉnh hồi đó và các văn bản đều ghi “ngôi nhà thờ ấy rất xinh đẹp”. Vậy thì ít ra cũng là ngôi nhà rộng rãi, lịch sự, thông thoáng, có mái ngói, cột sơn son, chạm trổ tinh vi, hoành phi câu đối như kiểu “nhà từ đường” của các dòng họ đương thời.

  Chính tại ngôi nhà thờ trên, trong bối cảnh Giáo hội đang gặp khó khăn. Vì áp lực của nhà cầm quyền, cha Đắc Lộ bị trục xuất phải ra đi nên không có một linh mục nào khác có mặt trong xứ. Bởi vậy thầy giảng Y-Nha-Xô và bà Minh Đức thay thế các linh mục tổ chức mừng lễ Chúa Giáng Sinh rất long trọng vào năm 1643.

  Việc trang hoàng ngày lễ trong ngôi nhà thờ có thể chứa được 300 người, được thiết lập một hang đá rất xinh đẹp. Có điều hy hữu, việc thực hiện này có bàn tay của vị Tử Đạo đầu tiên của Giáo hội Việt Nam là Thầy giảng Anrê Phú Yên ở trong đoàn Thầy giảng do Y-Nha-Xô đứng đầu cũng có mặt lúc đó, Vì chính cha Đắc Lộ cho biết, ngoài công tác dạy Đạo cho người ngoại giáo, hướng dẫn kẻ tân tòng, thầy Anrê Phú Yên “còn lo dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ những ngày lễ lớn quanh năm, khéo léo đến nỗi làm cho bổn đạo tăng thêm phần sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính màu nhiệm của Đạo”.

  Nói về nhân sự, qua số lượng đông đảo các tín hữu Công giáo, có cả người lương dân ở khắp vùng lân cận kéo đến viếng Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, hợp với tất cả các con cái, cháu chắt, gia nhân trong dinh của Bà Minh-Đức đều tụ họp về nhà thờ. Và chính ông Tổng trấn Nguyễn Phúc Khê tuy không theo đạo vẫn đến tham dự, càng làm cho ngày lễ thêm phần long trọng.

  Điểm cần nhấn mạnh, lễ Giáng Sinh năm đó không một bóng linh mục, chẳng ai cử hành Thánh lễ Mi-sa, mà chỉ có sự hiện diện của các tín hữu và lương dân. Bà Maria Mađalêna Minh-Đức đã đứng ra chủ tọa và giảng thuyết một cách hùng hồn, lưu loát rao truyền về ơn cứu độ của Chúa giáng trần. Sự kiện này được giáo sĩ Đắc Lộ ghi lại như sau: “Lòng đạo đức của Bà hôm ấy thật sáng tỏ: Bà đã làm cho người con của Bà và các cháu của Bà đến thờ lạy và triều yết Vua vinh hiển xuống thế làm người. Chính Bà lại đem những sự cao cả của Người mà rao giảng cho những kẻ khắp nơi kéo đến kính viếng Người trong hang đá này”.

  Câu chuyện lễ Sinh Nhật đáng nhớ kể trên là một chứng tích về lòng dũng cảm, tinh thần truyền giáo hăng say của bà Minh-Đức.

III. ĐÔI NÉT VỀ BÀ MINH-ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI

  Cuộc đời và sự nghiệp rao giảng Tin Mừng của bà Minh-Đức đã được sử gia Phạm Đình Khiêm, một người chuyên nghiên cứu và viết về mảng lịch sử Giáo hội Việt Nam, qua tài liệu tra cứu giá trị rất công phu, trong đó tác giả đã cho ra mắt cuốn “Minh-Đức Vương Thái Phi” do tủ sách Tinh Việt Văn Đoàn xuất bản năm 1957. Qua tập sách này, ta có thể tìm hiểu và biết được dung mạo người phụ nữ đạo đức, đáng kính này.

  Bà Minh-Đức là vợ Chúa Nguyễn Hoàng, mẹ của Hoàng Tử Nguyễn Phúc Khê, tước hiệu Vương Phi, được đứng đầu hàng Thứ phi. Năm 1625 đã ngoài 50 tuổi, bà gia nhập Đạo Công giáo tại Thuận Hóa do giáo sĩ Francisco di Pina rửa tội cho bà với tên Thánh là Maria Mađalêna, có sự chứng kiến của giáo sĩ Đắc Lộ.

  Vui mừng và hạnh phúc được tòng giáo, bà Minh-Đức đã dùng uy tín của mình để nâng đỡ Giáo hội khi gặp khó khăn cấm cách. Hằng ngày, chẳng những bà đích thân đến nhà thờ trong dinh mà còn mở cửa cho giáo dân cả tỉnh vào đọc kinh cầu nguyện chung với nhau. Ngoài ra, nơi này còn là chỗ đi về, nương tựa ẩn náu cho các giáo sĩ khi đến khu vực này giảng Đạo.

  Tại Thuận Hóa, khởi đầu phong trào theo Đạo lan rộng là nhờ gương sáng, lòng nhân ái và hành động tông đồ nhiệt thành truyền giáo, đồng thời bà còn hết sức giúp đỡ các giáo sĩ, đặc biệt là phái đoàn Thầy giảng Việt Nam do linh mục Đắc Lộ đào tạo, huấn luyện khi đến hoạt động tại vùng kinh đô Chúa Nguyễn. Việc bênh vực giáo dân của bà cũng làm nhiều người nhận biết Chúa, trong đó có cả gia nhân hoàng tộc.

  Cùng chia sẻ nỗi đau thương với cộng đoàn, bà Minh-Đức rất buồn rầu đối với cái chết của Chân phước Anrê Phú Yên và Thầy giảng trưởng đoàn Y-Nha-Xô, được biết nhiều người xé áo thấm lấy máu hoặc hốt đất có nhuộm máu Tử Đạo đem về, bà Minh-Đức được chia một phần những di vật quý báu đó để tôn kính trong nhà.

  Tháng 2 năm 1645, có 4 nữ tu Dòng Kín Thánh Clara đến kinh đô. Bà Minh-Đức rất vui mừng được đón tiếp và trao đổi tìm hiểu luật Dòng. Trước khi từ giã, bà đã xin các nữ tu một bộ áo dòng như dấu chỉ hợp nhất để mặc vào mình trong giờ chết và an táng.

  Bà Minh-Đức Vương Thái Phi qua đời vào năm 1649, hưởng thọ 80 tuổi, thủ tiết 36 năm, trong đó có 24 năm lo giảng đạo, làm việc tông đồ mở mang nước Chúa để lại tấm gương nhân đức chiếu rạng khắp triều đình. Hành động của bà ảnh hưởng lớn đến dân chúng và danh tiếng bà luôn ghi dấu trong sử sách.

  Bà Minh-Đức Vương Thái Phi còn được các giáo sĩ truyền giáo coi như linh hồn của Đạo Công giáo thời bấy giờ, người phụ nữ có công đầu, xứng đáng xưng tụng là vị tiền hô Công giáo Tiến hành Việt Nam.

(Maryland, mùa đông 2009)

Vũ Đình Hải Đường
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

SỐNG ĐỨC TIN

%d bloggers like this: